Thứ hai, 21/8/2017, 0:0
Lượt đọc: 2350

Vài nét về trường Tiểu học Nguyễn An Ninh

Trường Tiểu học Nguyễn An Ninh thuộc khu vực Thị Trấn Hóc Môn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.

1. Bối cảnh nhà trường:

            Trường tiểu học Nguyễn An Ninh thuộc khu vực Thị Trấn Hóc Môn, Huyện Hóc Môn. Cách đây hơn 50 năm, ban đầu trường chỉ có vài lớp vài lớp với cái tên quen thuôc mà người dân gọi là “Trường Tổng”.

            Sau 30/4/1975 trường mang tên Trường trung học cơ sở Nguyễn An Khương. Đến năm 1996 trường chính thức đổi  tên thành trường tiểu học Nguyễn An Ninh căn cứ theo quyết định số 55/QĐ-UB ngày 27/03/1996 của Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn

          Năm học  2008-2009 , trường  được nhận một cơ sở của trường Nguyễn An Khương. Kể từ đó, bức tường rào ngăn cách 2 trường đã được đập bỏ, diện tích trường được mở rộng hơn.

           Đến nay (2017-2018), trường tiểu học Nguyễn An Ninh  có tổng số 43 lớp với hơn 2000 học sinh. Từ năm học 2015-2016, trường đã có 1 lớp 1 chương trình Tích hợp với hơn 30 học sinh và hiện nay đã có 5 lớp chương trình Tích hợp từ lớp 1 đến lớp 3. Trường Nguyễn An Ninh đang thực hiện song song 2 chương trình: chương trình theo mô hình trường học mới VNEN và chương trình 2000.Tổng số cán bộ, giáo viên, công nhân viên của trường là 84 đồng chí, trong đó: Quản lý: 3 đồng chí; Giáo viên: 53 đồng chí; Nhân viên: 28 đồng chí; Đảng viên: 24 đồng chí; Đoàn viên thanh niên : 15;

Trường có diện tích 8080m2 với 43 phòng học kiên cố và bán kiên cố. Hiện tại trường có 100% học sinh học 2 buổi / ngày.

 Tập thể cán bộ, giáo viên, công nhân viên nhiệt tình tích cực, quyết tâm phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, phát huy sức mạnh và truyền thống tốt đẹp của địa phương của nhà trường, đoàn kết, nhất trí xây dựng phong trào giáo dục của nhà trường ngày càng đi lên phát triển. Trường tiểu học Nguyễn An Ninh quyết tâm phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học đề ra.

2.  Cán bộ quản lý

a) BGH có đủ sức khoẻ, được tập thể nhà trường tín nhiệm về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn; 100% đạt trình độ đại học,100% đạt A ngoại ngữ ( 1 trình độ C), 100% đạt A tin học, 66.7%  UDCNTT,33,3% cử nhân tin học, 100% được bồi dưỡng  quản lý giáo dục ,

b) Tất cả các thành viên trong BGH được bồi dưỡng về quản lý giáo dục và thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 17, Điều 18 của Điều lệ trường tiểu học.

3. Giáo viên trong trường:

a)      Toàn trường có 53 giáo viên, trong đó có 44 giáo viên dạy nhiều môn, 9 giáo viên dạy môn tự chọn ( Tin học: 2, Thể dục: 1, Ngoại ngữ 5, Hát nhạc: 1). Tỉ lệ bình quân GV/1 lớp là 1.23. Giáo viên được phân công giảng dạy đúng chuyên môn; 100% giáo viên đạt chuẩn sư phạm, trong đó 51 GV (96.2%) đạt trình độ Đại học;  100 % GV có trình độ A tin học và 100% GV có trình độ A ngoại ngữ trở lên. Các môn tự chọn trường phải hợp đồng giáo viên thỉnh giảng

b)      Hằng năm, tất cả giáo viên tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của cơ quan quản lý có thẩm quyền.

4. Nhân viên trong trường:

a)      Có đủ số lượng nhân viên làm công tác trong trường như y tế , văn thư, kế toán, thủ quỹ và nhân viên khác (theo Điều 16 của Điều lệ trường tiểu học và hướng dẫn cụ thể tại điểm c Khoản 1 Mục II của Thông tư số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23/8/2006 về định mức biên chế viên chức ở cơ sở giáo dục phổ thông công lập) gồm: Thủ quỹ : 1; Kế toán : 1; Văn thư : 1; Thư viện : 1; Thiết bị : 1; Y tế: 1;  Bảo vệ : 4; Phục vụ, cấp dưỡng: 18.

b)       Nhân viên trong trường đáp ứng yêu cầu về chất lượng (theo Điều 16 của Điều lệ trường tiểu học và hướng dẫn cụ thể tại  khoản 7 Mục I của Thông tư số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23/8/2006 về định mức biên chế viên chức ở cơ sở giáo dục phổ thông công lập).

c)      Các nhân viên trong trường đều được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đáp ứng yêu cầu các công việc được phân công và được đảm bảo đầy đủ các chế độ chính sách hiện hành.

 5. Cơ sở vật chất :

1.Phòng học :

Nhà trường có 43 phòng học. Phòng học có đủ cho 100% học sinh học 2 buổi/ngày. Tuy nhiên , 7 phòng học ở dãy sau nhà  ăn do giáp ranh với Mẫu giáo Bé Ngoan. Hoạt động giờ giấc 2 trường khác biệt nên ít nhiều cũng ảnh hưởng đến việc học tập của các em.

a)      Trường không có phòng dành riêng cho Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng (tất cả đều dành cho học sinh)  phòng Đoàn Đội, phòng Hội đồng sư phạm, phòng Y tế, phòng thư viện, thiết bị. Phòng thiết bị và thư viện chưa đủ diện tích quy định. Hiện tại trường có 2 phòng dạy Tin học, không có phòng Nhạc, Họa, phòng tập đa năng cho học sinh.

b)      Nhà trường có kế hoạch đẩy mạnh mua sắm các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác giáo dục trong nhà trường. Đến nay, nhà trường đã có nhiều trang thiết bị tin học, điện tử phục vụ cho công tác soạn giảng giáo án điện tử và phục vụ các hoạt động tập thể khác, 2 phòng học vi tính với 82 máy vi tính. 15 máy cassette để phục vụ cho việc học nhạc và Tiếng Anh tăng cường, Từng bộ phận làm việc đều có máy tính , máy in có nối mạng, có 1 máy chiếu Prorecter, 1 laptop phục vụ cho trình chiếu giáo án điện tử, có 3 máy in canon, 1 máy photo, 1 máy quét ảnh Epson Scan V30, trường kết nối mạng Lan, mạng Internet tới các máy văn phòng của nhà trường; hệ thống đèn, quạt các lớp đều đảm bảo đúng quy định, học sinh học tập có đầy đủ ánh sáng và không khí thoáng mát. Đặc biệt, năm học 2015-2016, nhà trường có 2 bảng tương tác, phục vụ cho nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học và giúp cho việc giảng dạy tiếng Anh ngày một tốt hơn.

-         Căn cứ kết quả kiểm tra, rà soát, đánh giá thực trạng CSVC, thiết bị dạy học và các quy định, văn bản hướng dẫn về mua sắm trang thiết bị dạy học của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ lớp 1 đến lớp 5 để   trang bị đầy đủ  theo các Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu tại đơn vị đảm bảo về chất lượng tránh lãng phí. Đối với mỗi nội dung dạy học có thể chọn lựa thiết bị thuộc một trong các chủng loại khác nhau để mua sắm như : tranh ảnh, bản đồ, mô hình, mẫu vật, tiêu bản, các phần mềm dạy học, thiết bị dạy học điện tử, bản trong… hoặc tổ chức tự làm đồ dùng, thiết bị dạy học , có thể mua sắm các thiết bị dạy học khác ngoài danh mục thiết bị dạy học tối thiểu để nâng cao chất lượng phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học.Kinh phí mua sắm thực hiện theo - Thông tư số 30/TT-LB ngày 26/7/1990 của Liên bộ Tài Chính – Giáo dục Đào tạo về “ Hướng dẫn quản lý vốn sự nghiệp đầu tư cho Giáo dục phổ thông và văn bản số 3871/KHTC ngày 29/6/1993 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về “ Thực hiện mức kinh phí mua sắm SGK và Thiết bị trường học theo thông tư Liên bộ số 30/TT-LB ngày 26/7/1990 của Bộ Tài Chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo”. - Khi tổ chức mua sắm thực hiện theo quy định của Luật đấu thầu ngày 29/11/2005; cùng các quy định hiện hành khác của Nhà nước.

-         Tích cực tham mưu với cấp trên để xây dựng thêm các phòng học, phòng chức năng cần thiết phục vụ cho công tác giáo dục.

 b.  Thư viện nhà trường có đủ sách, báo, tài liệu tham khảo và phòng đọc, đáp ứng được nhu cầu học tập, nghiên cứu của giáo viên, nhân viên và học sinh.

a)      Thư viện được nhà trường quan tâm và bố trí trên một mặt bằng khá thuận lợi cho giáo viên và học trường đến đọc với diện tích sử dụng là 48 m2 . Để phục vụ bạn đọc sử dụng tài liệu thư viện có hiệu quả, thư viện đã đề ra các quy định về chức năng và nhiệm vụ, các quy định về mượn trả tài liệu và thời gian mở cửa thư viện.  Thư viện đã được nhà trường đầu tư, mua bổ sung tài liệu hàng năm, phục vụ việc dạy và học. Thư viện có vốn tài liệu khá phong phú có cả những tài liệu để nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, đáp ứng các nhu cầu tìm hiểu văn học, lịch sử và văn hóa đất nước, giải trí của bạn đọc.

b)      Hiện nay, thư viện có 8.945 sách giáo khoa, 1099 sách nghiệp vụ, 2856 sách tham khảo, 1955  sách  Kim Đồng  và nhiều  loại báo, tạp chí phục vụ cho giáo viên. Thư viện đảm bảo tốt tỷ lệ đầu sách cho học sinh, tỉ lệ 2.6. Hằng năm nhà trường trích Ngân sách để mua thêm sách báo, truyện để bổ sung cho tủ sách thư viện.

c.  Trường có đủ thiết bị giáo dục, đồ dùng giảng dạy; khuyến khích giáo viên tự làm đồ dùng dạy học hiệu quả.

Nhà trường có tương đối đủ các thiết bị giáo dục, Mỗi phòng học được trang bị  tủ để giáo viện đựng đồ dùng dạy học. Hàng năm , trường có kế hoạch trang bị thêm đồ dùng dạy học, tranh ảnh phục vụ choo giáo viên , tránh trường hợp giáo viên dạy chay, học sinh tiếp thu thụ động.

 Mỗi năm học, nhà trường tổ chức một cuộc thi làm đồ dùng giảng dạy và huy động 100% giáo viên tham gia, nhiều đồ dùng có chất lượng cao và sử dụng hiệu quả. 

 d.  Khu vệ sinh, nơi để xe và hệ thống nước sạch của trường đáp ứng nhu cầu của hoạt động giáo dục trong nhà trường.

Nhà trường có ba khu vệ sinh tự hoại đạt chất lượng cao dành riêng cho giáo viên và học sinh, mỗi khu đều có nhà vệ sinh nam và nữ. Các khu vệ sinh đều có giếng nước, tex nước, máy bơm nước và đầy đủ các vòi nước rửa tay phục vụ cho việc vệ sinh cá nhân.

 Nơi để xe cho giáo viên nằm ở khu vực gần nhà vệ sinh (khối lớp 1) và khu vực phía sau dãy lớp 2 (mầm non Bé Ngoan), đảm bảo an toàn tuyệt đối do lúc nào cũng có bảo vệ trực trường.

 Nhà trường có 4  giếng đóng để phục vụ cho giáo viên và học sinh toàn trường. Có công trình lọc nước sạch tinh khiết cung cấp đủ nước sạch phục vụ cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh uống hàng ngày.

 

Tác giả: Admin

163