1. Bối cảnh nhà trường:
Trường
tiểu học Nguyễn An Ninh thuộc khu vực Thị Trấn Hóc Môn, Huyện Hóc Môn.
Cách đây hơn 50 năm, ban đầu trường chỉ có vài lớp vài lớp với cái tên quen
thuôc mà người dân gọi là “Trường Tổng”.
Sau 30/4/1975 trường mang tên
Trường trung học cơ sở Nguyễn An Khương. Đến năm 1996 trường chính thức
đổi tên thành trường tiểu học Nguyễn An Ninh căn cứ theo quyết
định số 55/QĐ-UB ngày 27/03/1996 của Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn
Năm học 2008-2009 , trường được
nhận một cơ sở của trường Nguyễn An Khương. Kể từ đó, bức tường rào ngăn cách 2
trường đã được đập bỏ, diện tích trường được mở rộng hơn.
Đến nay (2017-2018), trường tiểu
học Nguyễn An Ninh có tổng số 43 lớp với hơn
2000 học sinh. Từ năm học 2015-2016, trường đã có 1 lớp 1
chương trình Tích hợp với hơn 30 học sinh và hiện nay
đã có 5 lớp chương trình Tích hợp từ lớp 1 đến lớp 3. Trường Nguyễn An Ninh
đang thực hiện song song 2 chương trình: chương trình theo mô hình trường học
mới VNEN và chương trình 2000.Tổng số cán bộ, giáo viên, công nhân viên của
trường là 84 đồng chí, trong đó: Quản lý: 3 đồng chí; Giáo viên: 53 đồng chí;
Nhân viên: 28 đồng chí; Đảng viên: 24 đồng chí;
Đoàn viên thanh niên : 15;
Trường
có diện tích 8080m2 với 43 phòng học kiên cố và bán kiên cố. Hiện tại trường có
100% học sinh học 2 buổi / ngày.
Tập
thể cán bộ, giáo viên, công nhân viên nhiệt tình tích cực,
quyết tâm phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, phát huy sức mạnh và truyền thống
tốt đẹp của địa phương của nhà trường, đoàn kết, nhất trí xây dựng phong trào
giáo dục của nhà trường ngày càng đi lên phát triển. Trường tiểu
học Nguyễn An Ninh quyết tâm phấn
đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học đề ra.
2. Cán
bộ quản lý
a)
BGH có đủ sức khoẻ, được tập thể nhà trường tín nhiệm về phẩm chất chính
trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn; 100% đạt trình độ đại học,100% đạt A
ngoại ngữ ( 1 trình độ C), 100% đạt A tin học, 66.7% UDCNTT,33,3% cử
nhân tin học, 100% được bồi dưỡng quản lý giáo dục ,
b)
Tất cả các thành viên trong BGH được bồi dưỡng về quản lý giáo dục và thực
hiện hiệu quả các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 17, Điều 18
của Điều lệ trường tiểu học.
3. Giáo viên trong trường:
a) Toàn
trường có 53 giáo viên, trong đó có 44 giáo viên dạy nhiều môn, 9 giáo viên dạy
môn tự chọn ( Tin học: 2, Thể dục: 1, Ngoại ngữ 5, Hát nhạc: 1). Tỉ lệ bình
quân GV/1 lớp là 1.23. Giáo viên được phân công giảng dạy đúng chuyên môn; 100%
giáo viên đạt chuẩn sư phạm, trong đó 51 GV (96.2%) đạt trình độ Đại
học; 100 % GV có trình độ A tin học và 100% GV có trình độ A ngoại
ngữ trở lên. Các môn tự chọn trường phải hợp đồng giáo viên thỉnh giảng
b) Hằng
năm, tất cả giáo viên tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và tự bồi
dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của cơ quan
quản lý có thẩm quyền.
4. Nhân viên trong trường:
a) Có
đủ số lượng nhân viên làm công tác trong trường như y tế , văn thư, kế toán,
thủ quỹ và nhân viên khác (theo Điều 16 của Điều lệ trường tiểu học và
hướng dẫn cụ thể tại điểm c Khoản 1 Mục II của Thông tư số
35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23/8/2006 về định mức biên chế viên chức ở cơ sở
giáo dục phổ thông công lập) gồm: Thủ quỹ : 1; Kế toán : 1; Văn thư : 1; Thư
viện : 1; Thiết bị : 1; Y tế: 1; Bảo vệ
: 4; Phục vụ, cấp dưỡng: 18.
b) Nhân
viên trong trường đáp ứng yêu cầu về chất lượng (theo Điều 16 của Điều lệ
trường tiểu học và hướng dẫn cụ thể tại khoản 7 Mục I của Thông tư
số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23/8/2006 về định mức biên chế viên chức ở cơ sở
giáo dục phổ thông công lập).
c) Các
nhân viên trong trường đều được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ và đáp ứng yêu cầu các công việc được phân công và được đảm
bảo đầy đủ các chế độ chính sách hiện hành.
5. Cơ sở vật chất :
1.Phòng học :
Nhà
trường có 43 phòng học. Phòng học có đủ cho 100% học sinh học 2 buổi/ngày. Tuy
nhiên , 7 phòng học ở dãy sau nhà ăn do giáp ranh với Mẫu giáo Bé
Ngoan. Hoạt động giờ giấc 2 trường khác biệt nên ít nhiều cũng ảnh hưởng
đến việc học tập của các em.
a) Trường
không có phòng dành riêng cho Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng (tất cả đều dành cho
học sinh) phòng Đoàn Đội, phòng Hội đồng sư phạm, phòng Y tế, phòng
thư viện, thiết bị. Phòng thiết bị và thư viện chưa đủ diện tích quy định. Hiện
tại trường có 2 phòng dạy Tin học, không có phòng Nhạc, Họa, phòng tập đa năng
cho học sinh.
b) Nhà
trường có kế hoạch đẩy mạnh mua sắm các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho
công tác giáo dục trong nhà trường. Đến nay, nhà trường đã có nhiều trang thiết
bị tin học, điện tử phục vụ cho công tác soạn giảng giáo án điện tử và phục vụ
các hoạt động tập thể khác, 2 phòng học vi tính với 82 máy vi tính. 15 máy
cassette để phục vụ cho việc học nhạc và Tiếng Anh tăng cường, Từng bộ phận làm
việc đều có máy tính , máy in có nối mạng, có 1 máy chiếu Prorecter, 1 laptop
phục vụ cho trình chiếu giáo án điện tử, có 3 máy in canon, 1 máy photo, 1 máy
quét ảnh Epson Scan V30, trường kết nối mạng Lan, mạng Internet tới các máy văn
phòng của nhà trường; hệ thống đèn, quạt các lớp đều đảm bảo đúng quy định, học
sinh học tập có đầy đủ ánh sáng và không khí thoáng mát. Đặc biệt, năm học
2015-2016, nhà trường có 2 bảng tương tác, phục vụ cho nhu cầu đổi mới phương
pháp dạy học và giúp cho việc giảng dạy tiếng Anh ngày một tốt hơn.
- Căn
cứ kết quả kiểm tra, rà soát, đánh giá thực trạng CSVC, thiết bị dạy học và các
quy định, văn bản hướng dẫn về mua sắm trang thiết bị dạy học của Bộ Giáo dục
và Đào tạo từ lớp 1 đến lớp 5 để trang bị đầy
đủ theo các Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu tại đơn vị đảm
bảo về chất lượng tránh lãng phí. Đối với mỗi nội dung dạy học có thể chọn
lựa thiết bị thuộc một trong các chủng loại khác nhau để mua sắm như : tranh
ảnh, bản đồ, mô hình, mẫu vật, tiêu bản, các phần mềm dạy học, thiết bị dạy học
điện tử, bản trong… hoặc tổ chức tự làm đồ dùng, thiết bị dạy học ,
có thể mua sắm các thiết bị dạy học khác ngoài danh mục thiết bị dạy học tối
thiểu để nâng cao chất lượng phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học.Kinh
phí mua sắm thực hiện theo - Thông tư số 30/TT-LB ngày 26/7/1990 của Liên bộ
Tài Chính – Giáo dục Đào tạo về “ Hướng dẫn quản lý vốn sự nghiệp đầu tư cho
Giáo dục phổ thông và văn bản số 3871/KHTC ngày 29/6/1993 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo về “ Thực hiện mức kinh phí mua sắm SGK và Thiết bị trường học theo
thông tư Liên bộ số 30/TT-LB ngày 26/7/1990 của Bộ Tài Chính và Bộ Giáo dục và
Đào tạo”. - Khi tổ chức mua sắm thực hiện theo quy định của Luật đấu thầu ngày
29/11/2005; cùng các quy định hiện hành khác của Nhà nước.
- Tích
cực tham mưu với cấp trên để xây dựng thêm các phòng học, phòng chức năng cần
thiết phục vụ cho công tác giáo dục.
b. Thư viện nhà trường có đủ sách, báo, tài
liệu tham khảo và phòng đọc, đáp ứng được nhu cầu học tập, nghiên cứu của giáo
viên, nhân viên và học sinh.
a) Thư
viện được nhà trường quan tâm và bố trí trên một mặt bằng khá thuận lợi cho giáo
viên và học trường đến đọc với diện tích sử dụng là 48 m2 . Để
phục vụ bạn đọc sử dụng tài liệu thư viện có hiệu quả, thư viện đã đề ra các
quy định về chức năng và nhiệm vụ, các quy định về mượn trả tài liệu và thời
gian mở cửa thư viện. Thư viện đã được nhà trường đầu tư, mua bổ
sung tài liệu hàng năm, phục vụ việc dạy và học. Thư viện có vốn tài liệu khá
phong phú có cả những tài liệu để nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, đáp
ứng các nhu cầu tìm hiểu văn học, lịch sử và văn hóa đất nước, giải trí của bạn
đọc.
b) Hiện
nay, thư viện có 8.945 sách giáo khoa, 1099 sách nghiệp vụ, 2856 sách tham
khảo, 1955 sách Kim Đồng và
nhiều loại báo, tạp chí phục vụ cho giáo viên. Thư viện đảm bảo tốt
tỷ lệ đầu sách cho học sinh, tỉ lệ 2.6. Hằng năm nhà trường trích Ngân
sách để mua thêm sách báo, truyện để bổ sung cho tủ sách thư viện.
c. Trường có đủ thiết bị giáo dục, đồ dùng giảng dạy;
khuyến khích giáo viên tự làm đồ dùng dạy học hiệu quả.
Nhà
trường có tương đối đủ các thiết bị giáo dục, Mỗi phòng học được trang bị tủ để giáo viện đựng đồ dùng dạy học. Hàng
năm , trường có kế hoạch trang bị thêm đồ dùng dạy học, tranh ảnh phục vụ choo
giáo viên , tránh trường hợp giáo viên dạy chay, học sinh tiếp thu thụ động.
Mỗi
năm học, nhà trường tổ chức một cuộc thi làm đồ dùng giảng dạy và huy động 100%
giáo viên tham gia, nhiều đồ dùng có chất lượng cao và sử dụng hiệu quả.
d. Khu vệ sinh, nơi để xe và hệ thống nước sạch
của trường đáp ứng nhu cầu của hoạt động giáo dục trong nhà trường.
Nhà
trường có ba khu vệ sinh tự hoại đạt chất lượng cao dành riêng cho giáo viên và
học sinh, mỗi khu đều có nhà vệ sinh nam và nữ. Các khu vệ sinh đều có giếng
nước, tex nước, máy bơm nước và đầy đủ các vòi nước rửa tay phục vụ cho việc vệ
sinh cá nhân.
Nơi
để xe cho giáo viên nằm ở khu vực gần nhà vệ sinh (khối lớp 1) và khu vực phía
sau dãy lớp 2 (mầm non Bé Ngoan), đảm bảo an toàn tuyệt đối do lúc nào cũng có
bảo vệ trực trường.
Nhà
trường có 4 giếng đóng để phục vụ cho giáo viên và học sinh toàn
trường. Có công trình lọc nước sạch tinh khiết cung cấp đủ nước sạch phục vụ
cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh uống hàng ngày.